Bá tử nhân là vị thuốc quen thuộc trong Y học cổ truyền, có tác dụng dưỡng tâm, an thần và nhuận tràng. Dược liệu này thường dùng cho các chứng mất ngủ, hồi hộp lo âu và táo bón, đặc biệt ở người cao tuổi.
Bá tử nhân là vị thuốc quen thuộc trong Y học cổ truyền, có tác dụng dưỡng tâm, an thần và nhuận tràng. Dược liệu này thường dùng cho các chứng mất ngủ, hồi hộp lo âu và táo bón, đặc biệt ở người cao tuổi.
Giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Lương Thế Vinh chia sẻ rằng, bá tử nhân đặc biệt phù hợp với người cao tuổi, phụ nữ sau sinh và những trường hợp suy nhược thần kinh, mất ngủ kéo dài do tâm huyết hư tổn.
Đặc điểm dược liệu bá tử nhân
Bá tử nhân còn được gọi là hạt trắc bách, là phần nhân hạt phơi hoặc sấy khô của cây trắc bách diệp. Dược liệu có tên khoa học là Semen Thujae orientalis, được lấy từ cây Thuya orientalis L. [Biota orientalis (L.) Endl.], thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae). Hạt bá tử nhân có hình bầu dục, vỏ mỏng, bên trong chứa nhiều dầu béo, saponosid và các acid béo có lợi. Đây chính là cơ sở tạo nên tác dụng nhuận tràng, dưỡng tâm và an thần của vị thuốc này.
Công dụng của bá tử nhân theo Y học cổ truyền
Theo Đông y, bá tử nhân có vị ngọt, tính bình, quy vào các kinh Tâm, Can và Tỳ. Vị thuốc này có tác dụng dưỡng tâm an thần, nhuận tràng thông tiện, thường được dùng trong các trường hợp:
Hồi hộp, lo âu, tim đập nhanh, đánh trống ngực
Mất ngủ, ngủ không sâu giấc, hay mộng mị (tâm quý, thất miên)
Suy giảm trí nhớ, tinh thần hoảng hốt
Táo bón do âm hư, huyết hư, đặc biệt ở người già và phụ nữ sau sinh
Bá tử nhân thường được dùng với liều 9–15g mỗi ngày, có thể sắc uống hoặc chế biến dưới dạng hoàn, tán, cháo, món hầm.
Một số bài thuốc tiêu biểu từ bá tử nhân
Dưỡng tâm, an thần, cải thiện mất ngủ
Dùng trong các trường hợp hồi hộp, mất ngủ, ngủ mê nhiều, trí nhớ giảm: Bá tử nhân 20g, thục địa 20g, mạch môn đông 12g, câu kỷ tử 12g, đương quy 12g, phục thần 12g, huyền sâm 12g, cam thảo 4g, xương bồ 4g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Trị hồi hộp do tâm huyết hư
Bá tử nhân 16g, toan táo nhân 16g, ngũ vị tử 8g, viễn chí 8g. Sắc uống, dùng liên tục trong nhiều ngày.
Bổ âm, cầm mồ hôi, trị chứng âm hư
Bá tử nhân 16g, cù mạch 16g, ngũ vị tử 8g, bán hạ khúc 12g, mẫu lệ 12g, đảng sâm 12g, rễ ma hoàng 12g, bạch truật 12g. Có thể tán bột làm hoàn hoặc sắc uống.
Nhuận tràng, trị táo bón mạn tính
Bá tử nhân 12g, tùng tử nhân 12g, hỏa ma nhân 12g. Nghiền bột, luyện mật làm hoàn hoặc sắc uống. Phù hợp cho người âm hư, người già, phụ nữ sau sinh.
Món ăn – bài thuốc từ bá tử nhân
Tim lợn hầm bá tử nhân
Chuẩn bị tim lợn 1 quả và bá tử nhân 30g. Tim làm sạch, nhồi bá tử nhân vào, khâu lại và hầm cách thủy cho chín nhừ. Món ăn này giúp cải thiện hồi hộp, lo âu, rối loạn nhịp tim và mất ngủ.
Cháo bá tử nhân
Bá tử nhân 10–15g, gạo tẻ 100g, mật ong vừa đủ. Nấu thành cháo, thêm mật ong khi cháo chín. Dùng tốt cho người mất ngủ, táo bón kéo dài, suy nhược thần kinh.
Mật ướp bá tử nhân – cúc hoa
Bá tử nhân 30g, cúc hoa 30g, sao khô, tán mịn. Mỗi lần dùng 14–18g pha nước nóng và mật ong. Bài thuốc giúp an thần, dưỡng da, được xem là phương pháp “bảo kiện mỹ dung”.
Bá tử nhân hồ đào tán
Bá tử nhân 500g, hồ đào nhục 500g, tán mịn. Mỗi lần uống 9g với nước ấm. Thường dùng cho người thận hư, rụng tóc, tóc khô xơ.
Theo giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, bá tử nhân là vị thuốc có tính ôn hòa, hiệu quả tốt khi dùng đúng thể bệnh, đặc biệt trong các chứng tâm huyết hư, âm hư gây mất ngủ và táo bón.
Lưu ý khi sử dụng bá tử nhân
Không dùng bá tử nhân cho người có đàm thấp, tiêu chảy, tỳ vị hư hàn. Khi sử dụng lâu dài hoặc kết hợp nhiều vị thuốc khác, người bệnh nên tham khảo ý kiến thầy thuốc Đông y để đảm bảo an toàn và hiệu quả.