Mạch môn còn được biết đến với các tên gọi như Lan tiên hoặc Mạch đông, cây được đặt tên theo hình dạng lá cây giống với lá lúa mạch, tên gọi Mạch đông bắt nguồn từ việc trong mùa đông lá của nó vẫn giữ màu xanh tươi.
Mạch môn còn được biết đến với các tên gọi như Lan tiên hoặc Mạch đông, cây được đặt tên theo hình dạng lá cây giống với lá lúa mạch, tên gọi Mạch đông bắt nguồn từ việc trong mùa đông lá của nó vẫn giữ màu xanh tươi.
Các nghiên cứu y học hiện đại đã chỉ ra rằng loại vị thuốc này có những tác động tích cực lên mạch vành của tim. Hôm nay hãy cùng Trường Cao đẳng y dược Pasteur tìm hiểu về chủ đề này nhé
Cây Mạch môn được biết đến với tên khoa học Ophiopogon japonicus (L.f.) Ker-Gawl, thuộc họ Mạch môn đông (Convallariaceae), thường được sử dụng trong Đông Y với mục đích điều trị viêm phế quản, sốt nóng, ho, tiêu đờm và táo bón.
Mạch môn đông là một loại cỏ sống lâu năm, có chiều cao từ 10cm đến 40cm, có rễ chùm và những phần trên rễ có thể phát triển thành củ.
Lá mọc sát gốc, hẹp dài như lá lúa
Lá của cây mọc từ gốc, hẹp dài, giống như lá của cây lúa mạch, có chiều dài từ 15 đến 40cm, rộng từ 1 đến 4mm, với một số lá có bẹ ở phần cuống và mép lá có thể có răng cưa.
Quả của cây có dạng mọng màu tím đen nhạt, có đường kính khoảng 6mm, thường chứa 1 đến 2 hạt.
Loài cây này thường mọc hoang và được trồng ở nhiều vùng ở Việt Nam để thu hoạch củ sử dụng trong y học, với sự phổ biến nhất ở Phùng (Hà Tây), Nghĩa Trai (Hưng Yên) và Ninh Hiệp (Hà Nội).
Thường tiến hành thu hái vào tháng 6 - 7 từ những cây đã trưởng thành từ 2 - 3 năm.
Quá trình thu hoạch bao gồm đào lấy rễ củ, sau đó rửa sạch và phơi nắng, sau đó xếp đống nhiều lần để khô gần đạt mức khoảng 70% - 80%. Rễ củ sau đó được đập dẹt, loại bỏ lõi và tiếp tục phơi khô.
Thu hoạch củ Mạch môn để làm dược liệu
Đôi khi sau khi thu hoạch về, củ mạch môn được rạch và tước bỏ lõi, sau đó rang cùng với gạo cho đến khi gạo có màu vàng nhạt. Sau đó loại bỏ gạo và sử dụng phần củ mạch môn.
Củ mạch môn thường có hình thoi, màu vàng nhạt, có cấu trúc hơi trong và có chiều dài khoảng 10 - 15mm, mang một mùi đặc biệt và có vị ngọt.
Mạch môn đông bao gồm nhiều thành phần khác nhau chủ yếu là saponin steroid, homoisoflavonoid và polysaccharide. Ngoài ra, còn chứa chất nhầy và chất đường.
Theo các nghiên cứu mới nhất:
Các thành phần chính của Mạch môn đông như homoisoflavonoid, saponin steroid và polysacarid đã thể hiện được các tác động dược lý khác nhau như điều hòa miễn dịch, chống ho, chống viêm, chống oxy hóa, chống ung thư, bảo vệ tim mạch …
Sử dụng Mạch môn đông đường uống giúp mang lại hiệu quả bảo vệ tim mạch một cách đáng kể giúp chống lại thiệt hại do tác nhân isoproterenol gây ra thông qua việc tăng cường các chất chống oxy hóa nội sinh. Cụ thể là:
Saponin steroid chiết xuất được từ rễ Mạch môn đông giúp phát huy tác dụng bảo vệ tim, chống lại suy tim mạn tính do doxorubicin gây ra thông qua việc ức chế quá trình viêm và quá trình oxy hóa. Những kết quả này đã cung cấp được bằng chứng cho thấy rằng saponin steroid thu từ rễ Mạch môn đông có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh suy tim mạn tính và nhiều các nghiên cứu khác cho thấy tác dụng bảo vệ tim mạch của Mạch môn đông.
Theo bác sĩ Y học cổ truyền Nguyễn Văn Đức trong dân gian, Mạch môn đông là một vị thuốc phổ biến được sử dụng rộng rãi. Nó được dùng để điều trị ho kéo dài, ho có đờm, cũng như là một loại thuốc bổ hỗ trợ cho các vấn đề về sức khỏe phổi và tăng cân. Ngoài ra, nó còn được sử dụng để điều trị thiếu sữa ở phụ nữ sau sinh, tăng tiểu tiện và giảm cảm giác khát nước.
Theo quan điểm của Y học cổ truyền, Mạch môn đông được cho là có công dụng chủ trị các triệu chứng như phế nhiệt do âm hư, ho khô, ho lao, cảm giác khô khan và khát nước, cũng như cải thiện các triệu chứng bồn chồn và mất ngủ cùng với tình trạng táo bón.
Liều lượng thông thường cho Mạch môn đông là từ 6g đến 12g mỗi ngày, thường dưới dạng thuốc sắc và thường kết hợp với các loại thuốc khác để tăng hiệu quả điều trị.
Mạch môn trị ho hiệu quả
Mạch môn đông thang (Đơn thuốc từ Kinh quỹ yếu lược)
Dùng để điều trị triệu chứng hoả nghịch bốc lên, cảm giác khó nuốt do viêm nhiễm.
Thành phần: Mạch môn đông, Nhân sâm, Bán hạ, Cánh mễ, Đại táo, Cam thảo. Cho nước vào sắc, chia ra uống ấm. Mỗi ngày uống 3 lần, uống 1 lần vào ban đêm.
Dưỡng chính thang (Đơn thuốc từ Sổ tay lâm sàng trung dược)
Sử dụng để điều trị bệnh nhân trong giai đoạn phục hồi, cũng như các triệu chứng như táo bón, khô nóng và cảm giác khát nước.
Thành phần: Mạch môn, Hà thủ ô, Ngọc trúc, Đương quy, Thục địa, Sinh địa, Hoài sơn, Phục linh, Bạch thược, Trinh nữ hoàng cung và Chích thảo. Đem tất cả sắc uống.
Sinh mạch tán (Đơn thuốc từ Nội ngoại thương biện hoặc luận)
Dùng để điều trị suy tim và các triệu chứng như lạnh tay chân, mồ hôi nhiều, mạch nhanh và huyết áp thấp.
Thành phần: Mạch môn, Nhân sâm hoặc Đảng sâm (liều gấp đôi), Ngũ vị tử. Sắc uống.
Trong trường hợp có triệu chứng ra mồ hôi nhiều, bứt rứt khó chịu, sử dụng: Mạch môn, Hoàng kỳ, Đương quy, Ngũ vị tử. Sắc uống.
Mạch môn đông được biết đến với các tác dụng như dưỡng âm, làm mát Phế, điều trị ho kéo dài, họng khô, miệng khát và cũng có khả năng chống lại các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh mạch vành.
Kiêng kỵ