Cây mỏ quạ là vị thuốc quen thuộc trong dân gian. Với rễ và lá chứa nhiều hoạt chất sinh học, cây được sử dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền để điều trị nhiều chứng bệnh.
Cây mỏ quạ là vị thuốc quen thuộc trong dân gian. Với rễ và lá chứa nhiều hoạt chất sinh học, cây được sử dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền để điều trị nhiều chứng bệnh.
Cây mỏ quạ có tên khoa học là Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur., thuộc họ Moraceae. Trong dân gian, cây còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như: Hoàng lồ, Vàng lồ, Cây bướm, Gai vàng lồ, Sọng vàng, Móc câu.
Đây là loại cây nhỏ, thân mềm, nhiều cành nhánh tạo thành bụi rậm. Trên thân và cành có nhiều gai, khi già cong xuống như mỏ con quạ – vì thế mà cây có tên gọi đặc biệt này. Vỏ thân có màu tro nâu, khi cắt chảy ra nhựa trắng. Rễ cây phát triển mạnh, mọc ngang và có thể xuyên qua cả lớp đá, vì vậy còn được gọi là “Xuyên phá thạch”.
Lá mỏ quạ hình trứng thuôn dài, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn bóng, mọc cách. Khi nhấm lá có vị tê lưỡi. Hoa mọc ở nách lá, có màu vàng nhạt. Quả tròn, hơi cụt ở đầu, khi chín ngả vàng, bên trong chứa hạt nhỏ.
Ở Việt Nam, cây mỏ quạ mọc nhiều ở các vùng đồi núi, đồng thời được người dân trồng làm hàng rào tự nhiên. Bộ phận dùng chủ yếu là rễ và lá.
Lá mỏ quạ: thường bỏ cuống, dùng tươi, có thể giã đắp ngoài da.
Rễ mỏ quạ: đào về rửa sạch, cắt khúc, phơi hoặc sấy khô để sử dụng dần.
Nghiên cứu hiện đại cho thấy vỏ và gỗ cây mỏ quạ chứa nhiều hoạt chất sinh học như cudraniaxanthon, butyrospermol acetat, kaempferol, aromadendrin, populnin, quercetin, taxifolin. Ngoài ra, lá cây còn chứa nhiều flavonoid – nhóm chất có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm.
Theo TS Nguyễn Xuân Xã – giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Lương Thế Vinh cho biết, rễ mỏ quạ có vị đắng, tính mát, quy vào kinh phế. Công dụng chính là khử phong, hoạt huyết phá ứ, làm mát phổi, giãn gân, giúp chữa các chứng ho, phong thấp, bế kinh, vàng da và ứ tích.
Rễ mỏ quạ: thường dùng trị đau nhức lưng gối, ho ra máu, bế kinh, phong thấp và một số chứng vàng da.
Lá mỏ quạ: được dùng ngoài da trong các bài thuốc chữa vết thương phần mềm, giúp giảm đau, kháng viêm và hỗ trợ tái tạo mô.
Tuy nhiên, theo khuyến cáo của Bác sĩ Y học cổ truyền, phụ nữ mang thai tuyệt đối không nên sử dụng cây mỏ quạ vì có thể gây ảnh hưởng không tốt đến thai kỳ.
Trong dân gian, cây mỏ quạ được sử dụng trong nhiều bài thuốc hỗ trợ điều trị:
Chữa vết thương phần mềm: Lá mỏ quạ tươi rửa sạch, bỏ cuống, giã nát và đắp trực tiếp lên vết thương.
Bài thuốc này giúp giảm sưng đau, cầm máu và thúc đẩy lành thương.
Hỗ trợ điều trị ho do lao phổi: Rễ mỏ quạ kết hợp cùng các vị thuốc như Rung rúc, Bách bộ, Hoàng liên ô rô.
Tất cả rửa sạch, sắc với nước, chia 3 lần uống trong ngày khi còn ấm.
Hỗ trợ điều trị phong thấp, đau nhức xương khớp: Dùng rễ mỏ quạ gai, cành Dâu, Quế chi và Thiên niên kiện.
Sắc nhỏ lửa, chia làm 2 lần uống trong ngày. Bài thuốc này giúp giảm đau nhức, lưu thông khí huyết, cải thiện tình trạng phong thấp.
Dù có nhiều tác dụng tốt, người bệnh không nên tự ý dùng cây mỏ quạ mà cần tham khảo ý kiến từ Bác sĩ Y học cổ truyền. Việc dùng sai cách, sai liều lượng có thể gây tác dụng phụ, đặc biệt với người có cơ địa nhạy cảm hoặc phụ nữ mang thai.
Ngoài ra, khi kết hợp mỏ quạ với các thảo dược khác, cần tuân thủ đúng bài thuốc để đạt hiệu quả tối ưu. Người bệnh nên kiên trì áp dụng, kết hợp chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý để bệnh cải thiện nhanh hơn.
Cây mỏ quạ là dược liệu quý trong kho tàng Y học cổ truyền Việt Nam. Với rễ và lá chứa nhiều hoạt chất sinh học, cây có khả năng hỗ trợ điều trị ho, đau nhức xương khớp, phong thấp và đặc biệt là vết thương phần mềm. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và hiệu quả, người bệnh chỉ nên sử dụng khi có sự tư vấn, theo dõi từ Bác sĩ Y học cổ truyền.