Trong kho tàng Y học cổ truyền, bách thảo sương – vị thuốc dân gian được sử dụng để hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh như kiết lỵ, chảy máu cam, thổ huyết, rong kinh hay các tổn thương ngoài da.
Trong kho tàng Y học cổ truyền, bách thảo sương – vị thuốc dân gian được sử dụng để hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh như kiết lỵ, chảy máu cam, thổ huyết, rong kinh hay các tổn thương ngoài da.
Bách thảo sương còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như muội nồi, nhọ nồi, táo muội, oa đề khôi, ngạch thương mặc, táo ngạch mặc…. Trong Đông y, vị thuốc này có tên khoa học là Pulvis fumicarbonisatus.
Khác với nhiều dược liệu khác có nguồn gốc từ cây cỏ, bách thảo sương không phải là một loại thảo dược. Đây thực chất là lớp muội đen bám dưới đáy nồi hoặc chảo khi nấu ăn bằng rơm rạ hoặc các loại cây cỏ khô trong thời gian dài.
Theo quan niệm của Đông y, lớp muội này được hình thành khi nhiều loại thực vật khác nhau bị đốt cháy, tạo thành khói và bám lại dưới đáy nồi. Vì khói được sinh ra từ nhiều loại cây cỏ nên gọi là “bách thảo” (trăm loại cỏ), còn khi được tán thành bột mịn thì nhẹ như sương nên gọi là “bách thảo sương”.
Ở Việt Nam, vị thuốc này thường được thu thập ở các vùng nông thôn – nơi vẫn còn sử dụng bếp củi, bếp rơm. Phần muội nồi được cạo từ đáy nồi đất nấu cơm thường được đánh giá có giá trị dược liệu tốt hơn.
Sau khi thu được lớp muội nồi, người ta tiến hành sơ chế để sử dụng làm thuốc. Phần muội đen được cạo sạch, loại bỏ tạp chất rồi tán thành bột mịn hoặc sàng lọc nhiều lần. Một số trường hợp còn thủy phi hoặc phối hợp với các dược liệu khác để làm thành viên thuốc.
Theo tài liệu Y học cổ truyền, bách thảo sương có những đặc điểm sau:
- Tính: ôn
- Vị: cay
- Công năng: sát khuẩn, chống viêm, giải độc và cầm máu
Nhờ những đặc tính này, vị thuốc thường được sử dụng trong nhiều trường hợp như:
- Chảy máu cam
- Rong kinh, băng huyết
- Ho ra máu, nôn ra máu
- Chảy máu chân răng
- Kiết lỵ, tả lỵ
- Các vết thương chảy máu ngoài da
- Lở loét da đầu, rụng tóc, hói đầu
Ngoài ra, bách thảo sương còn được dùng trong một số bài thuốc hỗ trợ điều trị tình trạng động thai hoặc ra máu trong thai kỳ theo kinh nghiệm dân gian.
Liều dùng thông thường của vị thuốc này dao động khoảng 6 – 12g mỗi ngày, có thể dùng dưới dạng uống trong (sắc thuốc hoặc hoàn viên) hoặc đắp ngoài da đối với các trường hợp tổn thương da.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tác dụng của bách thảo sương chủ yếu được ghi nhận trong phạm vi Đông y, còn các nghiên cứu khoa học hiện đại về dược tính vẫn còn hạn chế.
TS Lê Xuân Hùng – giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Lương Thế Vinh cho biết, bách thảo sương thường được kết hợp với nhiều dược liệu khác để tăng hiệu quả điều trị. Dưới đây là một số bài thuốc phổ biến.
Bài thuốc trị rong kinh ở phụ nữ
Chuẩn bị khoảng 6g bách thảo sương, trộn cùng mật chó rồi chia làm hai lần uống trong ngày. Khi dùng có thể uống kèm với rượu đương quy để tăng hiệu quả điều hòa kinh nguyệt.
Bài thuốc hỗ trợ trị bạch đới
Người bệnh có biểu hiện khí hư nhiều, cơ thể mệt mỏi, ăn uống kém có thể dùng 30g bách thảo sương tán bột. Mỗi ngày lấy khoảng 9g bột thuốc, gói vào một miếng gan lợn rồi nướng chín và ăn cùng một chén rượu trắng.
Bài thuốc trị chảy máu chân răng
Lấy một lượng nhỏ bột bách thảo sương bôi trực tiếp lên vùng chân răng đang chảy máu. Thực hiện 1–2 lần mỗi ngày, đồng thời giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ để hạn chế viêm nhiễm.
Bài thuốc trị rụng tóc, hói đầu
Trộn bột bách thảo sương với mỡ heo tạo thành hỗn hợp sệt, sau đó bôi lên vùng da đầu bị rụng tóc hoặc lở loét. Bài thuốc dân gian này được cho là giúp sát khuẩn và kích thích mọc tóc.
Bài thuốc trị chảy máu cam
Chuẩn bị một ít bột bách thảo sương cho vào giấy nhỏ, sau đó thổi nhẹ bột vào lỗ mũi đang chảy máu. Cách làm này được cho là giúp cầm máu nhanh trong trường hợp chảy máu cam.
Bài thuốc trị ho ra máu, thổ huyết
Có thể dùng 6g bột bách thảo sương uống cùng nước gạo nếp mỗi ngày. Một cách khác là phối hợp bách thảo sương với hoa hòe, tán bột và uống cùng nước sắc rễ tranh.
Bách thảo sương là vị thuốc dân gian khá đặc biệt trong Y học cổ truyền, được hình thành từ lớp muội nồi khi đun nấu bằng rơm rạ hoặc cây cỏ. Với đặc tính sát khuẩn, chống viêm và cầm máu, vị thuốc này được ứng dụng trong nhiều bài thuốc điều trị chảy máu, kiết lỵ, rụng tóc hay các tổn thương ngoài da.