Ngải cứu là một trong những cây thuốc quen thuộc, không chỉ là nguyên liệu ẩm thực, ngải cứu còn được xem là vị thuốc quan trọng trong Y học cổ truyền, được sử dụng từ hàng trăm năm nay để phòng và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý khác nhau.
Ngải cứu là một trong những cây thuốc quen thuộc, không chỉ là nguyên liệu ẩm thực, ngải cứu còn được xem là vị thuốc quan trọng trong Y học cổ truyền, được sử dụng từ hàng trăm năm nay để phòng và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý khác nhau.
Ngải cứu có tên khoa học là Artemisia vulgaris L., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn. Lá ngải cứu có mặt trên màu xanh đậm, mặt dưới có lớp lông trắng mịn, mùi thơm đặc trưng, vị hơi đắng.
Theo Y học cổ truyền, ngải cứu có vị đắng, cay, tính ấm, quy vào các kinh Can, Tỳ và Thận. Nhờ tính ấm, ngải cứu có tác dụng ôn kinh, tán hàn, cầm máu, điều hòa khí huyết, rất phù hợp để điều trị các chứng bệnh do hàn lạnh gây ra.
Theo TS Lê Xuân Hùng – giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Lương Thế Vinh cho biết công dụng chữa bệnh của cây ngải cứu như sau:
Công dụng điều hòa kinh nguyệt, giảm đau bụng kinh
Một trong những công dụng nổi bật nhất của ngải cứu trong Y học cổ truyền là điều hòa kinh nguyệt. Dược liệu này thường được dùng cho phụ nữ bị kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, rong kinh hoặc bế kinh do hàn.
Ngải cứu giúp làm ấm tử cung, thúc đẩy lưu thông khí huyết, từ đó giảm co thắt và đau tức vùng bụng dưới. Dân gian thường dùng ngải cứu sắc nước uống hoặc chế biến thành món ăn như trứng rán ngải cứu để hỗ trợ cải thiện tình trạng này.
Hỗ trợ an thai, giảm đau mỏi khi mang thai
Trong Y học cổ truyền, ngải cứu còn được dùng để an thai, đặc biệt với phụ nữ mang thai bị đau bụng, ra huyết nhẹ do khí huyết hư hàn. Khi dùng đúng liều lượng và đúng cách, ngải cứu giúp ổn định thai khí, giảm đau lưng, mỏi gối thường gặp trong thai kỳ.
Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cần thận trọng, chỉ nên sử dụng ngải cứu khi có chỉ định của thầy thuốc Đông y để tránh lạm dụng gây tác dụng ngược.
Giảm đau nhức xương khớp, phong thấp
Nhờ tính ấm và khả năng trừ hàn thấp, ngải cứu thường được dùng để hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp, phong thấp, đau lưng, đau vai gáy. Ngải cứu có thể dùng sắc uống, sao nóng chườm ngoài hoặc kết hợp trong các bài thuốc ngâm rượu xoa bóp.
Phương pháp chườm ngải cứu rang muối là cách dân gian đơn giản, giúp làm giãn mạch, giảm đau và tăng lưu thông máu tại vùng bị tổn thương.
Tác dụng cầm máu và hỗ trợ tiêu hóa
Ngải cứu còn có tác dụng cầm máu, thường dùng trong các trường hợp chảy máu cam, rong kinh hoặc xuất huyết nhẹ. Lá ngải cứu tươi giã nát, vắt lấy nước uống hoặc đắp ngoài là cách sử dụng phổ biến trong dân gian.
Bên cạnh đó, ngải cứu giúp kích thích tiêu hóa, giảm đầy bụng, chướng hơi và đau bụng do lạnh. Những người có tỳ vị hư hàn thường được khuyên dùng ngải cứu với liều lượng phù hợp để cải thiện chức năng tiêu hóa.
Bên cạnh đó, một ứng dụng rất quan trọng của ngải cứu trong Y học cổ truyền là cứu ngải. Đây là phương pháp dùng điếu ngải hoặc ngải nhung đốt nóng để hơ lên các huyệt đạo nhằm điều trị bệnh.
Cứu ngải giúp ôn thông kinh lạc, tăng cường chính khí, hỗ trợ điều trị các chứng bệnh mạn tính như đau khớp, lạnh tay chân, suy nhược cơ thể, rối loạn tiêu hóa và một số bệnh phụ khoa.
Mặc dù là dược liệu lành tính, ngải cứu không nên dùng quá liều hoặc dùng kéo dài liên tục. Người có cơ địa nhiệt, hay nóng trong, táo bón, cao huyết áp cần thận trọng khi sử dụng.
Để đạt hiệu quả và an toàn, việc dùng ngải cứu trong điều trị bệnh nên có sự tư vấn của thầy thuốc Y học cổ truyền, tránh tự ý kết hợp nhiều vị thuốc hoặc áp dụng sai cách.