Thường các loại thuốc thanh nhiệt trong Đông y thường mang vị đắng (khổ), và thường kèm theo vị đắng là tính táo thấp, có thể gây tổn hại cho âm chất trong cơ thể.
Thường các loại thuốc thanh nhiệt trong Đông y thường mang vị đắng (khổ), và thường kèm theo vị đắng là tính táo thấp, có thể gây tổn hại cho âm chất trong cơ thể.
Tuy nhiên, Tri mẫu là một ngoại lệ, không chỉ thanh nhiệt trong thận mà còn có khả năng bổ sung âm cho thận, được gọi là tác dụng Tư Âm Giáng Hỏa.
Hãy cùng Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tìm hiểu về chủ đề này!
Tên khoa học của cây Tri mẫu: Anemarrhena aspheloides Bunge, Tri mẫu thuộc họ Hành Alliaceae.
Tri mẫu còn có tên gọi khác là Rhizoma Anemarrhenac, đây là phần thân rễ sau khi đã được phơi hoặc sấy khô của cây Anemarrhena aspheloides, một thành viên trong họ Hành Alliaceae.
Ban đầu, Tri mẫu được gọi là Chi mâu do hình dạng mầm cây giống như trứng con kiến. Tuy nhiên, sau này, tên gọi đã được thay đổi thành Tri mẫu.
Tri mẫu thuộc thân cỏ sống lâu năm
Hiện tại, vẫn cần phải nhập khẩu Tri mẫu từ Trung Quốc vì chưa trồng trọt được ở Việt Nam. Thường vào mùa xuân (tháng 3-4), thân rễ được đào lên, rửa sạch và sau đó phơi hoặc sấy khô.
Tri mẫu là một loại cỏ sống lâu năm, có thân rễ phát triển ngang. Lá mọc thành vòng, có chiều dài khoảng từ 20 đến 30cm, hẹp, đầu nhọn và thường ôm sát vào nhau ở phía dưới. Trong mùa hè, cây có thể ra hoa, tạo thành các cụm hoa nhỏ màu trắng. Độ cao của cây dao động từ 60 đến 90cm.
Bộ phận của cây Tri mẫu thường được sử dụng là thân rễ, sau khi đã được phơi hoặc sấy khô.
Đối với thành phần hóa học, Tri mẫu chứa một loại chất saponin được gọi là asphonin, cùng với một số chất khác chưa được xác định.
Thân rễ dùng làm thuốc
Trong y học hiện đại:
Hiện nay, Tri mẫu được sử dụng trong việc điều trị các triệu chứng như ho, tiêu đờm, cũng như trong việc giảm sốt, đặc biệt là sốt do viêm phổi.
Tri mẫu trị ho và long đờm
Trong y học cổ truyền:
Theo PGS.TS Tạ Thị Tĩnh – giảng viên khoa Y học cổ truyền, Trường Đại học Lương Thế Vinh, Với vị thuốc này có vị đắng và tính lạnh, tác dụng chủ yếu của nó là thanh nhiệt, tư âm và giáng hoả.
Các loại thuốc khác có vị đắng và tính lạnh như Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Chi tử, mặc dù có khả năng thanh nhiệt nhưng thường đi kèm với nhược điểm là gây táo thương âm. Tuy nhiên, Tri mẫu không có nhược điểm này và còn có tác dụng tư âm giáng hoả. Thường được sử dụng trong các trường hợp của hệ thống âm hư phát nhiệt, cốt chưng, đạo hãn, di tinh, tiểu tiện vàng, ngũ tâm phiền nhiệt. Ngoài ra, nó cũng có thể giúp phế lao khái thấu, giảm cảm giác khát và được kết hợp với các loại thuốc khác như Địa cốt bì, Tần giao, Sinh địa, Bạch thược, Chích miết giáp, Nguyên sâm, Hoàng bá, Bạch vi, Mạch dông, vv.
Có thể chế biến Tri mẫu bằng cách sắc hoặc nghiền thành bột.
Liều lượng thông thường là từ 4 đến 10 gram mỗi ngày.
Đối với những người có Thận dương hư, mạch 2 bộ xích, vi nhược và đại tiện lỏng nhão, cần hạn chế sử dụng Tri mẫu.